Trang chủ » tin tức » Ống nhựa bị làm giả thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Ống nhựa bị làm giả thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

ống nhựa tiền phong

Ống nhựa bị làm giả thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Trên thị trường ngành ống nhựa hiện đang đối mặt với nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Các đối tượng thường làm giả hàng hóa của những đơn vị  đã có thương hiệu gây nhiều thiệt hại cho người tiêu dùng và đe dọ đến uy tín gây dựng lâu năm của doanh nghiệp. Điều đáng lo ngại là hàng giả ngày càng có xu hương tương lên về số lượng. Riêng ngành nhựa phục vụ cho mục đích cấp thoát nước thường có hai loại ống nhựa thường hay bị làm giả là ống nhựa PVC và PPR

Thực trạng ống nhựa bị làm giả ở nước ta hiện nay.

Hiện nay ống và phụ kiện nhựa làm giả chủ  yếu được được các đưa từ trung quốc và các cơ sở sản xuất trong nước sản xuất, chúng được tuồn vào các công trình, cửa hàng bán lẻ thậm chí cả những đại lý lớn hoạt động nhiều năm trong lĩnh vực ngành nước.

Ngày 30 tháng 11 năm 2015 phòng điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) phát hiện cơ sở xuất ống nhựa Bình Minh với quy mô lơn tại huyện Bình chánh tại TP Hồ Chí Minh cơ sở sản xuất hàng giả này là của công ty Minh Hiếu. Đáng chú ý cơ sở sản xuất ống giả trên lại là đại lý cấp 1 của công ty nhựa Bình Minh gần 20 năm nay. Các đối tượng làm giả và kể tiếp tay đều là những người  có kinh nghiệm trong thị trường ngành nước họ có khách hàng quen là những thợ điện nước hay của hàng bán lẻ thậm chí cả những đại lý phân phối,  việc làm trên đã đẩy người tiêu dung vào tình thế không biết nên mua hàng ở đâu để không bị hàng giả vì đại lý cấp 1 như công ty Minh Hiếu còn làm hàng giả thì những của hàng, đại lý khác lấy cơ sở đâu để khẳng định chỉ bán hàng chính hãng.

Các đối tượng làm hàng giả ngày càng tinh vi hơn mẫu mã giống hệt như hàng thật  và trong một lô hàng bạn mua bên bán chỉ cần trà trộn hàng giả một số hạng mục đắt tiền như cút ren, van, Zacco… thì người mua hàng hoàn toàn không thể phân biệt được đâu là hàng thật đâu là hàng giả. Anh Thành thợ điện nước tại khu vực tây hồ có tâm sự nhiều khi đi thi công thấy chủ nhà mua về lô ống và phụ kiện PPR VESBO để cho mình thi công mình biết  lô hàng này ống thì thật nhưng phụ kiện lại là hàng giả vì khi hàn lên có mùi khét và những phụ kiện ren nếu là hàng giả khi cầm vào thường nhẹ hơn, chân đồng mạ crom không sắc nét và thường mỏng và ngắn hơn so với hàng thật. anh thành cho biết là thợ điện nước đã nhiều năm nên anh thường thi công cho khách quen giới thiệu là chính nhiều khi chủ nhà họ nhờ mình đi mua hàng cùng để tránh bị mua phải hàng giả, cũng theo anh Thành có rất nhiều nơi giới thiệu với anh mua hàng giả của những hãng uy tiến như VESBO, Tiền Phong… giá chỉ bằng một 1/2 thậm chí là bằng 1/3 so với hàng thật tuy nhiên với lương tâm nghề nghiệp anh không bao giờ trà trộn hàng giả để nhằm chụp lợi cho bản thân. Qua tâm sự của anh Thành chúng ta thấy hàng giả, hàng nhái hiên nay đang tràn ngập thị trường, để tiếp cận việc mua hàng giả  hàng nhái đối với thợ điện nước và các của hàng là hết sức đơn giản nên người tiêu dung phải hết sức cẩn thận khi mua hàng. Chúng tôi khuyên khách hàng nên đi mua ở những của hàng uy tín, khi mua hàng chúng ta vẫn phải yêu cầu người bán hàng giảm giá trên mức giá mà nhà sản xuất công bố nhưng chúng ta không nên quá ép người bán, nếu người bán đưa ra mức chiết khấu quá cao so với những của hàng lân cận chúng ta phải hết sức cẩn thận vì có thể người bán hàng sẽ trà trộn một ít sản phẩm giả vào để giảm giá thành để làm vừa lòng khách hàng về mặt giá cả. Khi nhận hàng có thể nhờ thợ điện nước nhận hàng cùng để phát hiện những sản phẩn giả trà trộn vào lô hàng của mình.

Nỗi lo chung của nạn làm hàng giả, hàng nhái.

Đối với nhà sản xuất: Hàng giả xuất hiện làm cho sản phẩm của họ bị mất uy tín trên thị trường, làm cho người tiêu dung nghi ngại nên giảm thị phần, giảm doanh thu, môi trường kinh doanh bị xâm phạm làm mất bình đẵng trong kinh doanh, hàng năm họ bị mất không ít chi phí cho việc chống hàng giả, hàng nhái tuy nhiên hiệu quả củng không cao.

Đối với người tiêu dung: Ngươi tiêu dùng bị thiệt hại là quá rõ chẵng những bị lừa mất tiền mà khi dùng sản phẩm ống nhựa giả thiệt hại sau này là vô cùng lớn, khi đã hoàn thiện xong công trình thì hệ thống ống nhựa sẽ được đi âm tường nếu xảy ra sự cố thì việc khắc phục sẽ vô cùng phức tạp, ảnh hưởng tới những hạng mục khác có liên quan. Để giải quyết vấn đề ngoài việc phải chịu tổn thất về chi phí lớn, khi giả quyết xong sự cố tính thẩm mỹ công trình của bạn củng bị ảnh hưởng ít nhiều.

Những nguyên nhân của nạn làm hàng giả, hàng nhái hiện nay.

Hàng giả hiện nay đang có xu hướng tăng cao do những yếu tố sau:

Hàng sản xuất ra rất dễ bán và thu được lợi nhuận rất lớn nên những đối tượng này bất chấp tất cả mà  quan tâm đến pháp luật cũng như thiệt hại của người tiêu dùng.

Do tâm lý chuộng hàng ngoại lại ham giá rẻ của người tiêu dùng nên thường bị các đối tượng bán hàng giả lợi dụng. Người tiêu dùng khi đã chọn được sản phẩm nào định mua ví dụ như ống nhựa VESBO chẳng hạn thì thường hay đi khảo giá ở rất nhiều nơi và chọn cửa hàng nào bán rẻ nhất thì mua mà không quan tâm nhiều đến uy tín của cửa hàng nên rất dẽ bị mua phải hàng giả.

Đặc thù của ngành ống nhựa là người tiêu dùng thường thiếu thông tin về sản phẩm do cả đời chỉ xây một đến hai căn nhà nên chỉ mua ống nhựa một đến hai lần dẫn tới kinh nghiệm mua hàng còn chưa có. Khi người tiêu dùng có ý định mua hàng thường hỏi cánh thợ điện nước mua hãng nào, ở đâu hoặc ra cửa hàng nhờ tư vấn xem mua hàng nào. Vấn đề là ở chỗ thợ điện nước không phải ai cũng am hiểu về chất lượng của sản phẩm và có cách nhìn tổng quan về thị trường và cũng có thể thợ và cửa hàng bắt tay nhau để đưa sản phẩm giả vào công trình của bạn, còn người bán hàng thì chúng ta cũng chưa thể tin tưởng được liệu có vì lợi nhuận mà hướng khách hàng đến những sản phẩm ống nhựa chiết khấu cao để thu được nhiều hoa hồng cho bản thân và liệu rằng có bán cho bạn 100% là hàng thật.   

Một nguyên nhân quan trọng nữa là thái độ của nhà sản xuất khi sản phẩm của mình bị là giả: Có rất nhiều nhãn hàng ống nhựa bị làm giả ở thị trường Việt Nam nhưng chỉ có Công ty nhựa Bình Minh là công khai trên trang Web chính thức sản phẩm của bị làm giả, làm nhái và khuyến cáo khách hàng nên mua hàng từ đại lý chính thức, uy tín của công ty. Còn hẩu hết các đơn vị khác khi phát hiện ra sản phẩm của mình bị làm giả, làm nhái thường giữ thái độ im lặng “ngậm bồn hòn làm ngọt” vì sợ nếu công khai thì bị người tiêu dùng nghi ngờ làm giảm suốt doanh số của công ty. Chính thái độ này lại tiếp tay cho nạn làm giả ống nhựa tại thị trường Việt Nam ngày càng nhiều.

Một nguyên nhân nữa là các chế tài xử lý khi phát hiện hàng giả, hàng nhái chưa nghiêm, các hành vi xâm phạm làm hàng giả lại quy định chỉ khi nào vượt quá giá trị 30 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự theo luật như hiện nay là quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe trong khi đó việc thu được lợi nhuận lớn số tiền bị phạt lại nhỏ Thủ tục hành chính trong thanh tra, kiểm tra rườm rà không hợp lý, có khi chuẩn bị được thủ tục thì đối tượng làm hàng giả đã phi tang, biến mất. Vấn đề giám định cũng không có nguồn kinh phí, phương tiện giám định thiếu, lạc hậu dẫn đến thời gian giám định không đảm bảo vì phải gửi ra nước ngoài thẩm định, trong khi đó cán bộ quản lý thị trường thì mỏng, không sâu sát tình hình thực. Ở Việt Nam tuy đã có luật sở hữu trí tuệ nhưng việc hướng dẫn, thi hành còn quá chậm, thiếu đồng bộ, chậm đi vào đời sống, Thủ tục pháp lý thì rườm rà.

Một số giải pháp

Để đấu tranh phòng chống nạn làm hàng giả hàng nhái ống nhựa hiện nay đòi hỏi chúng ta phải liên kết chặt chẽ giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp, cơ quan chức năng. Phải có một biện pháp đấu tranh đồng bộ nhất quán.

Đối với người tiêu dùng, cần giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác khi mua hàng và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc chống hàng nhái, hàng giả, khi phát hiện ra hàng giả hàng nhái phải thông báo ngay cho đơn vị sản xuất và cơ quan chức năng việc này không chỉ là bảo vệ quyền lợi của mình mà còn là chống lại hành vi phá hoại sản xuất, kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất nước.

Đối với đơn vị sản xuất nếu có phát hiện ra dấu hiệu hàng của mình bị làm giả thì phải thông báo cho cơ quan chức năng, và khuyến cáo cho khách hàng kiệp thời. chúng ta cần cần phải thiết lập một cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà sản xuất phải bỏ kinh phí để thông báo đến người tiêu dùng phân biệt hàng thật của mình với hàng giả và có chính sách khen thưởng kịp thời cho những người tiêu dùng phát hiện ra hàng nhái, hàng giả.

Đối với cơ quan chức năng phải hoàn chỉnh hành lang pháp lý về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ. Các điều quy định trong Luật phải được hướng dẫn, xử lý cụ thể để cơ quan thực thi tiến hành thoả đáng. Một mặt cần đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, cơ quan có liên quan với bộ phận quản lý thị trường, một mặt tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ đủ năng lực, trình độ cho bộ phận này cũng như tăng cường các phương tiện cần thiết cho Hơn nữa, cũng nên có một hành lang pháp lý do Hội bảo vệ người tiêu dùng lập ra để bảo vệ người tiêu dùng sau khi mua hàng.

Vấn nạn hàng nhái, hàng giả hiện nay đang diễn biến nóng bỏng và phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín nước ta khi cạnh tranh với hàng nhập ngoại do đó cần có luật pháp nghiêm minh với các cơ quan thực thi đủ năng lực, trình độ, lôi cuốn được các doanh nghiệp và mọi người dân tích cực tham gia mới hy vọng đạt được kết quả mong muốn.

Theo kinh nghiệm từ các nước cho thấy vai trò tham gia của doanh nghiệp – chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong thực thi là rất quan trọng. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng đã quy định đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác, phối hợp và hợp tác với các cơ quan pháp luật. Sự liên minh giữa các nhà sản xuất trong đấu tranh chống hàng giả cần tích cực hơn nữa. Doanh nghiệp không được buông lỏng trong quản lý, giám sát tiêu thụ hàng hoá của mình, không nên coi việc chống hàng giả là của các cơ quan thực thi pháp luật. Khi bị xâm phạm nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể trực tiếp gửi đơn khiếu nại hoặc thông qua văn phòng luật sư để khiếu nại với Cục Sở hữu trí tuệ.

Đối với người tiêu dùng, cần giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác khi mua hàng và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc chống hàng nhái, hàng giả. Việc này không chỉ là bảo vệ quyền lợi của mình mà còn là chống lại hành vi phá hoại sản xuất, kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất nước. Việt Nam hiện nay cần phải thiết lập một cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà sản xuất phải bỏ kinh phí để thông báo đến người tiêu dùng phân biệt hàng thật của mình với hàng giả và có chính sách khen thưởng kịp thời cho những người tiêu dùng phát hiện ra hàng nhái, hàng giả. Hơn nữa, cũng nên có một hành lang pháp lý do Hội bảo vệ người tiêu dùng lập ra để bảo vệ người tiêu dùng sau khi mua hàng.

Phải hoàn chỉnh hành lang pháp lý về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ. Các điều quy định trong Luật phải được hướng dẫn, xử lý cụ thể để cơ quan thực thi tiến hành thoả đáng. Một mặt cần đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, cơ quan có liên quan với bộ phận quản lý thị trường, một mặt tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ đủ năng lực, trình độ cho bộ phận này cũng như tăng cường các phương tiện cần thiết cho việc giám định, kiểm tra để xử lý kịp thời, chính xác. Mức độ xử phạt cũng cần được xem xét lại sao cho có đủ sức răn đe tội phạm.

Vấn nạn hàng nhái, hàng giả hiện nay đang diễn biến nóng bỏng và phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín nước ta khi đã là thành viên chính thức của WTO. Do đó cần có luật pháp nghiêm minh với các cơ quan thực thi đủ năng lực, trình độ, lôi cuốn được các doanh nghiệp và mọi người dân tích cực tham gia mới hy vọng đạt được kết quả mong muốn.

Nguyên nhân quan trọng

Sở dĩ hàng nhái, hàng giả ngày càng phát triển là do lợi nhuận thúc đẩy, lôi kéo một số đối tượng tham lam vô độ. Một sản phẩm làm giả có thể đưa lại lợi nhuận gấp 5, gấp 10 lần, do đó họ bất chấp lương tri, không hề tính toán gì đến tác hại cho người tiêu dùng và xã hội.

Mặt khác, tâm lý chung của người tiêu dùng là thích dùng hàng ngoại, ham rẻ, đó là nhân tố tiếp tay cho hàng nhái, hàng giả có nơi lưu hành thuận lợi. Hơn nữa, người tiêu dùng thường thiếu cảnh giác và ít có thông tin về sản phẩm nên khó biết được sản phẩm thật – giả nếu chưa sử dụng.

Song một nguyên nhân hết sức quan trọng, theo nhận định của “chính những người trong cuộc” là do quy định pháp lý về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ chưa được thực hiện đầy đủ, nhất là về pháp lý xác định hành vi và quy trình thủ tục pháp lý trong quá trình kiểm tra

Đối với cơ quan chức năng:             

Phong phú về chủng loại, nên mức đtranh trên thị trường ống nhựa chịu nhiệt rất quyết liệt. Không chỉ cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập chính hãng, ống nhựa chịu nhiệt còn phải đối mặt với tình trạng hàng giả, hàng nhái ngày một tăng và ở mức đ tinh vi hơn.

Sản phẩm này có nhiều tính năng sử dụng, với lĩnh vực xây dựng dân dụng dùng để dẫn nước nóng, lạnh; trong công nghiệp dùng để dẫn dầu, dẫn các chất lỏng ăn mòn cao, các dung dịch dinh dưỡng thực phẩm; trong nông nghiệp dùng để tưới tiêu; trong hệ thống điều hòa dùng để sưởi ấm…

Ống Tiền Phong nhựa chịu nhiệt chất lượng cao có những đặc tính ưu việt như chịu được ở nhiệt độ cao (trên 110 độ C) và áp suất cao; không bị ăn mòn đối với các hóa chất có nồng độ PH cao; không gây độc hại, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; không bị mài mòn hoặc đóng cặn bởi các ion cứng trong nước; không gây rò rỉ, không gây tiếng ồn và rung khi dòng nước chảy qua. Đặc biệt, tính dẫn điện, dản xuâtẫn nhiệt thấp hơn 178 lần so với ống thép nên độ an toàn cao và không bị mất nhiệt đối với hệ thống nước nóng; tuổi thọ của các sản phẩm này thường tới trên 50 năm.

Trên thị trường ống nhựa chịu nhiệt, hai “đại gia” trong ngành nhựa là nhựa Tiền Phong và ống Bình Minh không chiếm ưu thế, mà các thương hiệu như Dekko25, PPR- Vesbo, PPrVietpipe lại quen thuộc hơn với người tiêu dùng. Với những đặc tính hữu dụng như trên, sản phẩm chất lượng của Việt Nam không thua kém so với hàng ngoại nhập, mà giá cả lại thấp hơn 10-15%. Các sản phẩm này thường có thời gian bảo hành dài, từ 10-15 năm, như Dekko25 được nhà sản xuất bảo hành bằng một hợp đồng bảo hiểm trị giá hơn 3 tỷ đồng.

Với các công trình xây dựng lớn, việc lựa chọn sản phẩm chất lượng là điều dễ dàng. Tuy nhiên, với xây dựng dân dụng, người tiêu dùng nhỏ lẻ đôi khi không dễ chọn sản phẩm, nhất là khi nhiều đại lý cố tình bán hàng theo kiểu trà trộn.

Tư vấn cách lựa chọn sản phẩm cho người tiêu dùng, anh Nguyễn Xuân Trường, một chủ thầy công trình cho biết, người tiêu dùng không nên ham rẻ mà chọn sản phẩm kém chất lượng, vì sẽ phải thường xuyên thay đổi sản phẩm trong quá trình sử dụng. Trong khi đó, ở đô thị chủ yếu là nhà cao tầng, vì thế khi lắp đặt hoặc thay thế sản phẩm, chủ nhà không chỉ đơn thuần chi phí cho sản phẩm đó mà còn kéo theo nhiều chi phí khác như chi phí dỡ bỏ, phí vận chuyển và lắp đặt… Như vậy, chi phí của một bộ sản phẩm không đảm bảo về chất lượng sẽ đắt gấp nhiều lần so với sản phẩm chất lượng. Theo anh Trường, ngoài thương hiệu, bằng con mắt cảm quan của mình, người tiêu dùng cũng có thể nhận biết được chất lượng sản phẩm. Vì sản phẩm chất lượng thường có màu sắc chuẩn, bắt mắt, các chân đồng bám sâu, ren sắc nét, nhiều sản phẩm cùng loại có xuất xứ Trung Quốc nhìn rất “dại”. Bên cạnh đó, tùy theo nhu cầu sử dụng, người tiêu dùng cũng nên chú ý đến đặc tính của sản phẩm khi chọn mua ống Dekko nhựa chịu nhiệt sử dụng tại nhà

Hiện nay, tình trạng hàng nhái, hành giả tràn lan trên thị trường là rất phổ biến từ gói bánh, hộp kẹo, gói mì chính đến kính đeo mắt, đồng hồ, vật liệu xây dựng, hàng mỹ phẩm,… Nguy hiểm hơn là thị trường hàng giả đang có xu hướng gia tăng trong cả lĩnh vực hàng không, linh kiện ô tô và dược phẩm.

Bởi lẽ đó, cần có những biện pháp mạnh hơn nữa nhằm giải quyết vấn nạn hàng nhái, hàng giả để bảo vệ người tiêu dùng và nền sản xuất trong nước.

Thực trạng nạn hàng nhái, hàng giả ở nước ta

Theo báo cáo của cơ quan công an ở 43/64 tỉnh/thành từ năm 2002 đến 2007, có tới gần 11.000 vụ và 1.500 đối tượng buôn bán hàng giả bị phát hiện, gây hại và đe dọa nghiêm trọng thị trường trong nước. Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua khiến mọi người phải hoảng sợ. Cụ thể là 8 tấn bột ngọt, 85.000 tấn xi măng, 25 tấn mỹ phẩm, 35 triệu cơ số tân dược, 25.000 chai rượu các loại, 50.000 chai bia, nước giải khát, 50.000 tấn sắt thép xây dựng, 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… Đó là những vụ được phát hiện, còn nếu tính cơ số vụ chưa phát hiện được thì con số có thể lớn gấp nhiều lần, bởi ngoài số hàng giả nói trên, cơ quan chức năng còn bắt giữ tới trên 5 tấn vỏ hộp, bao bì, nhãn mác giả.

Hàng giả hiện nay được làm rất tinh vi về chất lượng khiến người tiêu dùng rất khó phân biệt, chúng không chỉ được bày bán ở các cửa hàng nhỏ lẻ mà len lỏi vào cả các siêu thị lớn. Mới đây, cuộc thanh tra ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, đơn cử nhãn hiệu thời trang Valentine được bán trong các shop sang trọng phần lớn đều là hàng giả. Thành phố Hà Nội đã từng phát hiện ngay tại Tràng Tiền Plaza bán túi sách hiệu L.V giá hàng triệu đồng một chiếc nhưng cũng là hàng giả xuất xứ từ Trung Quốc. Chanel, một hãng nước hoa và thời trang danh tiếng đang hối thúc các luật sư Việt Nam xử lý việc vi phạm nhãn hiệu này trên thị trường Việt Nam, bởi gần đây từ trung tâm thương mại, siêu thị đến các shop mỹ phẩm thời trang, mua hàng Chanel thật còn khó hơn mua hàng Chanel giả. Bvlgari mới vào thị trường Việt Nam cũng bắt đầu phải yêu cầu các luật sư bảo vệ nhãn hiệu của mình đang bị “nhái” ngày một nhiều. Các loại đồng hồ danh tiếng nhất thế giới từ Omega, Rolex, Tissot đến Longines, Swatch đều đang là khách hàng của luật sư Phạm và liên danh.

Với hàng giả sản xuất trong nước thì thường được làm giả về nhãn hiệu, kiểu dáng tương tự, giống hệt thật, hoặc sản xuất hàng giả dùng mác thật có cả chỉ dẫn địa lý. Điều đáng lo ngại là hầu hết các mặt hàng giả đều là thực phẩm, hàng hoá tiêu dùng, thuốc men ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và sinh mệnh của người dân.

Bức xúc trước thực trạng báo động này, giám đốc một công ty dược phẩm cho biết: doanh nghiệp đã phải tốn kém rất nhiều chi phí cũng như thời gian, công sức cho việc bảo vệ uy tín sản phẩm của mình nhưng vẫn chưa thấm vào đâu; khi thương hiệu đã có uy tín thì hàng bị làm nhái, làm giả lập tức xuất hiện. Chi phí cho nhiệm vụ phân biệt hàng thật, hàng giả của từng công ty có thể khác nhau, nhưng tối thiểu cũng chiếm từ 1 – 3% doanh số và làm giảm doanh thu của công ty từ 20 đến 30%. Điều đáng nói hơn là nó làm cho các nhà sản xuất hoang mang và mất lòng tin ở khách hàng. Cứ hễ doanh nghiệp thay đổi về mẫu mã và cách trang trí thì chỉ trong một thời gian ngắn hàng thật đã bị làm nhái. Doanh nghiệp có giải thích, hướng dẫn cho khách hàng đâu là thật, đâu là giả thì chỉ sau một thời gian sản phẩm cũng bị làm nhái, làm giả.

Hàng giả có thể do một gia đình, một doanh nghiệp hoặc một số đối tượng liên hiệp sản xuất ra. Có thể dẫn ra vài vụ điển hình như: (1) Vụ buôn bán rượu ngoại giả của “trùm rượu giả” Nguyễn Văn Hữu tại phường 3 – quận 8 – thành phố Hồ Chí Minh với thủ đoạn là pha rượu lúa mới với nước màu rồi đem trộn với rượu ngoại. (2) Vụ Trần Thị Bạch Linh, chủ doanh nghiệp tư nhân Linh Sâm – Nghệ An, sản xuất rượu ngoại giả với thủ thuật pha chế dùng 50% rượu Brandy pha với 50% rượu ngoại rồi đóng chai, dập nút và dán tem nhập khẩu đưa đi tiêu thụ. (3) Vụ sản xuất phân bón giả quy mô lớn ở huyện Thuận An-Bình Dương, do một số đối tượng liên hiệp tiến hành bằng cách dùng nguyên liệu, cát, muối và bột màu đóng vào bao (loại 50kg), giả nhãn hiệu phân Kali, lân… đưa đi tiêu thụ chủ yếu ở Bình Phước, Đăk nông, Đăk lăk. (4) Vụ Mai Công Nghệ đứng ra tổ chức sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh, phòng bệnh giả.

Đáng lo ngại là tốc độ công nghiệp hoá quá nhanh đã đẩy nông dân vào việc mất đất hoặc vào cảnh nông nhàn nhiều hơn. Từ đó bọn đầu nậu, thương lái đến lôi kéo đội ngũ này đi làm hàng nhái, hàng giả. Ví dụ như nghề sản xuất tròng kính và mắt kính giả ở Thái Bình với các nhãn hiệu nổi tiếng như Rayban, Gucci, Pilot…

Ngay ở một số xã ở ngoại thành Hà Nội cũng có tổ chức sản xuất bánh kẹo dán các nhãn hiệu Bảo Ngọc, Hải Hà, Kinh Đô… và hàng may mặc giả các nhãn hiệu May 10, Thành Công, Nhà Bè, thậm chí là cả nhãn của Anh, Pháp, ý…

Với hàng giả sản xuất tại nước ngoài, phần lớn đều là những loại hàng trong nước không sản xuất được hoặc muốn sản xuất phải mất chi phí cao như hàng điện tử, điện lạnh, phụ tùng ô tô, thiết bị viễn thông. Một báo cáo của C15 Bộ Công an cho biết, hàng giả những nhãn hiệu nổi tiếng thường được sản xuất ở nước ngoài, sau đó nhập khẩu vào thị trường Việt Nam bằng cả đường tiểu ngạch và chính ngạch. Thủ đoạn để nhập hàng giả theo đường chính ngạch là đặt làm hàng giả nước ngoài, sau đó thay bằng nhãn mác khác, về thị trường Việt Nam mới bỏ nhãn mác đó đi và thay bằng nhãn mác nổi tiếng. Đáng chú ý là sự xuất hiện nền công nghiệp sản xuất hàng hoá của Trung Quốc. Hầu như trong lĩnh vực nào, trong tất cả các chủng loại hàng hoá từ cao cấp đến rẻ tiền, Trung Quốc đều làm nhái được với mẫu mã, hình thức giống y hàng thật.

Theo Cục Sở hữu trí tuệ thì hành vi nhái những nhãn hiệu còn được đưa vào nhái trên cả mặt hàng không liên quan tới nhãn hiệu thật. Như Honda hiện nay đang bị một số doanh nghiệp nhái để đặt tên cho mũ bảo hiểm hoặc cả hàng may mặc, mặt hàng mà hãng Honda không hề kinh doanh.

Nguyên nhân

Sở dĩ hàng nhái, hàng giả ngày càng phát triển là do siêu lợi nhuận thúc đẩy, lôi kéo một số đối tượng tham lam vô độ. Một sản phẩm làm giả có thể đưa lại lợi nhuận gấp 5, gấp 10 lần, do đó họ bất chấp lương tri, không hề tính toán gì đến tác hại cho người tiêu dùng và xã hội.

Mặt khác, tâm lý chung của người tiêu dùng là thích dùng hàng ngoại, ham rẻ, đó là nhân tố tiếp tay cho hàng nhái, hàng giả có nơi lưu hành thuận lợi. Hơn nữa, người tiêu dùng thường thiếu cảnh giác và ít có thông tin về sản phẩm nên khó biết được sản phẩm thật – giả nếu chưa sử dụng.

Song một nguyên nhân hết sức quan trọng, theo nhận định của “chính những người trong cuộc” là do quy định pháp lý về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ chưa được thực hiện đầy đủ, nhất là về pháp lý xác định hành vi và quy trình thủ tục pháp lý trong quá trình kiểm tra. Theo Chi cục Quản lý thị trường, một cái khó nữa là thủ tục về giám định và kết luận vi phạm, hồ sơ khiếu nại và thẩm quyền kiểm tra xử lý.

Về giám định, sau khi Cục Sở hữu trí tuệ không còn chức năng giám định mà chỉ có ý kiến chuyên môn khi cơ quan trưng cầu thì khi một vấn đề phát sinh là kết quả giám định do doanh nghiệp cung cấp cho cơ quan thực thi có được coi là chứng cớ pháp lý hay chỉ là một tài liệu tham khảo. Hồ sơ khiếu nại cũng là vấn đề tranh cãi bởi chưa có hướng dẫn cụ thể thế nào là hồ sơ hợp lý và đầy đủ. Các văn bản hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về vấn đề này cũng chưa thật sự rõ ràng khiến doanh nghiệp cũng không có căn cứ cụ thể để chuẩn bị hồ sơ khiếu nại. Điều này gây không ít khó khăn cho các cơ quan thực thi trong việc thụ lý hồ sơ trước khi đưa ra quyết định kiểm tra. Thẩm quyền kiểm tra, xử lý cũng là vấn đề hết sức bức xúc của lực lượng quản lý thị trường để đảm bảo xử lý nghiêm minh, triệt để, tránh tình trạng kiểm tra xử lý tràn lan, tuỳ tiện gây tác động xấu đến thị trường.

Thủ tục hành chính trong thanh tra, kiểm tra rườm rà không hợp lý, có khi chuẩn bị được thủ tục thì đối tượng làm hàng giả đã phi tang, biến mất. Vấn đề giám định cũng không có nguồn kinh phí, phương tiện giám định thiếu, lạc hậu dẫn đến thời gian giám định không đảm bảo vì phải gửi ra nước ngoài thẩm định. Các hành vi xâm phạm làm hàng giả lại quy định chỉ khi nào vượt quá giá trị 30 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự theo luật như hiện nay là quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe.

Một số giải pháp

Theo kinh nghiệm từ các nước cho thấy vai trò tham gia của doanh nghiệp – chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong thực thi là rất quan trọng. Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng đã quy định đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác, phối hợp và hợp tác với các cơ quan pháp luật. Sự liên minh giữa các nhà sản xuất trong đấu tranh chống hàng giả cần tích cực hơn nữa. Doanh nghiệp không được buông lỏng trong quản lý, giám sát tiêu thụ hàng hoá của mình, không nên coi việc chống hàng giả là của các cơ quan thực thi pháp luật. Khi bị xâm phạm nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể trực tiếp gửi đơn khiếu nại hoặc thông qua văn phòng luật sư để khiếu nại với Cục Sở hữu trí tuệ.

Đối với người tiêu dùng, cần giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác khi mua hàng và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của mình trong việc chống hàng nhái, hàng giả. Việc này không chỉ là bảo vệ quyền lợi của mình mà còn là chống lại hành vi phá hoại sản xuất, kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất nước. Việt Nam hiện nay cần phải thiết lập một cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà sản xuất phải bỏ kinh phí để thông báo đến người tiêu dùng phân biệt hàng thật của mình với hàng giả và có chính sách khen thưởng kịp thời cho những người tiêu dùng phát hiện ra hàng nhái, hàng giả. Hơn nữa, cũng nên có một hành lang pháp lý do Hội bảo vệ người tiêu dùng lập ra để bảo vệ người tiêu dùng sau khi mua hàng.

Phải hoàn chỉnh hành lang pháp lý về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ. Các điều quy định trong Luật phải được hướng dẫn, xử lý cụ thể để cơ quan thực thi tiến hành thoả đáng. Một mặt cần đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, cơ quan có liên quan với bộ phận quản lý thị trường, một mặt tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ đủ năng lực, trình độ cho bộ phận này cũng như tăng cường các phương tiện cần thiết cho việc giám định, kiểm tra để xử lý kịp thời, chính xác. Mức độ xử phạt cũng cần được xem xét lại sao cho có đủ sức răn đe tội phạm.

Vấn nạn hàng nhái, hàng giả hiện nay đang diễn biến nóng bỏng và phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín nước ta khi đã là thành viên chính thức của WTO. Do đó cần có luật pháp nghiêm minh với các cơ quan thực thi đủ năng lực, trình độ, lôi cuốn được các doanh nghiệp và mọi người dân tích cực tham gia mới hy vọng đạt được kết quả mong muốn.

Nói hàng giả, hàng nhái là kẻ thù của doanh nghiệp được xét trên ba mặt. Một mặt, doanh nghiệp bị mất thị phần tiêu thụ, bởi hàng giả, hàng nhái đã lừa được người tiêu dùng bằng giá cả thấp hơn (hoặc giá nào cũng bán). Theo đánh giá sơ bộ, tỷ lệ hàng giả tại thị trường hiện chiếm khoảng 8% đối với dược phẩm, 25% đối với rượu mạnh… Mặt khác, là uy tín của doanh nghiệp làm ăn chân chính bị giảm sút. Mặt khác nữa là môi trường kinh doanh bị xâm phạm, trong đó cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng là động lực của tăng trưởng; hàng giả, hàng nhái góp phần tiêu diệt cạnh tranh. Nói hàng giả, hàng nhái là kẻ thù của người tiêu dùng thì quá rõ, chẳng những bị lừa mất tiền, mà còn nhiều trường hợp “tiền mất tật mang”, còn nguy hại đối với sức khỏe và tính mạng con người. Tình trạng hàng giả, hàng nhái như trên tiếp tục phát sinh, phát triển do nhiều nguyên nhân, không chỉ do bản thân những kẻ làm hàng giả, hàng nhái hám lợi, lừa đảo, mà còn liên quan đến các chủ thể trên thị trường, đó là các doanh nghiệp, người tiêu dùng và các cơ quan quản lý nhà nước. Các doanh nghiệp có sản phẩm bị làm giả, làm nhái trong nhiều trường hợp đã không muốn, không dám công bố ồn ào, do sợ nếu công bố thì sản phẩm của mình cũng sẽ không tiêu thụ được, thà rằng “chung sống với lũ”, rồi dò tìm tự phát hiện. Người tiêu dùng khi bị lừa xong mới biết là hàng giả, hàng nhái thì kẻ làm hàng giả, hàng nhái đã lừa được rồi; khi phát hiện được thì đã không tìm ra được người bán, chưa nói là tìm ra được kẻ sản xuất, đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Các cơ quan quản lý nhà nước, tuy đã có Luật Sở hữu trí tuệ (có hiệu lực thi hành từ tháng 6.2006), nhưng việc hướng dẫn thi hành còn quá chậm, việc thực thi của các ngành, các cấp còn chưa được quan tâm. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập, việc vi phạm sở hữu trí tuệ là vi phạm vào điều cấm của luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt Nam. Việt Nam vẫn còn bị xếp vào danh sách những nước có mức độ vi phạm nhiều nhất, sẽ phải đứng trước các vụ kiện vi phạm sở hữu trí tuệ của khách hàng và các tổ chức quốc tế. Việc xử lý vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ